Tính Toàn Vẹn Của Văn Bản Kinh Thánh (Phần 3): Văn Bản Cựu Ước

Cựu Ước được viết trong khoảng thời gian khoảng 1.000 năm bởi khoảng 30 tác giả khác nhau (hầu hết đều vô danh) ở ít nhất ba quốc gia khác nhau (Ai Cập, Israel và Babylon) bằng hai ngôn ngữ khác nhau (tiếng Do Thái và tiếng Aram). Chúng ta không có bất cứ bản sao nào do chính các tác giả Kinh Thánh viết, thậm chí chúng ta cũng không có bản sao của bản sao của bản sao của bản sao. Trên thực tế, chúng ta không thể biết chắc chắn các bản thảo cổ nhất của chúng ta cách xa bản gốc bao nhiêu bước. Tất cả những sự thật này đặt ra những thách thức nghiêm trọng cho những người muốn biết Đức Thánh Linh đã soi dẫn điều gì ngay từ đầu (xem 2 Ti-mô-thê 3:16).

Cảm nhận được điểm yếu, những người chỉ trích Kinh Thánh tiếp tục tấn công vào nền tảng của chủ nghĩa hoài nghi. Họ phủ nhận khả năng biết được văn bản gốc của Kinh Thánh. Họ nhắc nhở chúng ta rằng một số tác phẩm văn học (đặc biệt là các sách Tiên tri) có nguồn gốc truyền miệng, và cho rằng chúng ta không thể biết nó được viết chính xác đến mức nào. Chúng ta không thể biết liệu Kinh Thánh có thay đổi đáng kể trong quá trình truyền bá qua thời gian hay không. Chúng ta không thể biết liệu một số sách được soi dẫn có bị thất lạc hay không (Kinh Thánh có nhiều đoạn đề cập đến những cuốn sách mà chúng ta không còn sở hữu).[1] Do đó, chúng ta không thể biết nên tin vào điều gì. Vậy những người có đức tin sẽ phản ứng như thế nào trước những lời khẳng định như vậy?

Liệu chúng ta có thể biết chắc chắn rằng mình đang sở hữu Kinh Thánh? Liệu chúng ta có thể sử dụng những bằng chứng hiện có để tái tạo lại văn bản của Cựu Ước? Những câu hỏi tưởng chừng đơn giản này lại dẫn đến những câu trả lời phức tạp. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cố gắng nhấn mạnh những thách thức vốn có trong việc xác định văn bản của Cựu Ước. Chúng ta cũng sẽ lập luận rằng, bất chấp những thách thức này, chúng ta thực sự có thể tin tưởng vào cách thức mà chúng ta có được Cựu Ước.

Các Bản Thảo Của Cựu Ước

Hai bản cuốn sách lớn của Kinh Thánh Hebrew (Hebrew – Hê-bơ-rơ/ tiếng Do thái cổ – BTV) là sách Aleppo (thế kỷ 10 SCN) và sách Leningrad (thế kỷ 11 SCN). Cả hai đều thuộc loại văn bản Masoretic và là những bản sao xuất sắc (Masoretic thuộc bản sao chép tay bởi các học giả – kinh sư Do thái – BTV). Các Kinh sư là những học giả và nhà phê bình văn bản người Do Thái, những người tìm cách bảo tồn cách phát âm truyền thống của văn bản tiếng Hebrew. Điều này đã dẫn họ đến việc phát triển một hệ thống các “dấu” nguyên âm để hỗ trợ phát âm. Giá trị công việc của họ nằm ở chỗ họ không muốn thay đổi cách viết phụ âm của văn bản (tiếng Hebrew, ngay cả ngày nay, theo truyền thống không được viết bằng nguyên âm). Hệ thống k e tiv (phát âm là k-TEEV) và q e re (phát âm là k-RAY), trong đó từ đầu tiên có nghĩa là “những gì được viết” và từ thứ hai có nghĩa là “những gì được đọc”, giải thích rằng các Kinh sư nhận ra có những lỗi sao chép trong Kinh Thánh, nhưng những lỗi này không được đọc vì hầu hết chúng đều vô nghĩa trong tiếng Hebrew. Việc các Kinh sư sẵn sàng bảo tồn văn bản, ngay cả khi họ biết nó chứa những lỗi sao chép, cho thấy họ đã coi trọng công việc của mình như thế nào. Họ tự coi mình chỉ là những thiết bị truyền tín hiệu, giống như máy photocopy hiện đại. Họ truyền tải chính xác những gì họ nhận được.

Mặc dù các Kinh sư hoạt động trong thời Trung Cổ, hầu hết các học giả tin rằng văn bản cơ bản mà các Kinh đã sao chép trở thành chuẩn mực vào thế kỷ thứ nhất SCN. Trên thực tế, trong số các bản thảo Kinh Thánh được phát hiện ở khu vực Biển Chết (ngoại trừ địa điểm Qumran), tất cả đều phù hợp với văn bản Masoretic sau này. Điều này mang lại cho chúng ta sự tin tưởng rất lớn vào văn bản của Cựu Ước. Tại Qumran, loại văn bản được gọi là “tiền Masoretic” là nổi bật nhất, mặc dù có thể quan sát thấy sự biến thể lớn hơn ở đây so với các địa điểm sa mạc Giu-đê khác.[2] Điều này cho thấy việc sao chép Kinh Thánh Hebrew được thực hiện rất cẩn thận.

Tất cả các bản dịch tiếng Anh ngày nay về cơ bản đều phản ánh văn bản tiếng Do Thái Masoretic, và nếu có tham khảo Cuộn Biển Chết (Dead Sea Scrolls), chúng thường được đề cập trong phần chú thích (đặc biệt là bản Tiếng Anh RSV và ESV). Điều này là do tính chất rời rạc của Cuộn Biển Chết, và sự không chắc chắn khi sử dụng các bản dịch cổ (như bản Septuagint) để tái tạo lại nội dung tiếng Do Thái gốc. Mặc dù chúng ta rất muốn tìm ra bản viết tay gốc của bất kỳ cuốn sách Kinh Thánh nào, nhưng sự gần sát của hầu hết các bản thảo Kinh Thánh cổ nhất với các bản thảo thời Trung Cổ cho chúng ta lý do để tin tưởng vào tính chính xác của việc truyền tải Cựu Ước.

Sách Aleppo (The Aleppo Codex)

Bản thảo Aleppo có một lịch sử hấp dẫn. Nó được sao chép cẩn thận vào khoảng đầu thế kỷ thứ 10 SCN, và chứa đựng những cải tiến mới nhất về dấu nguyên âm Masoretic của Aaron ben Môi-se ben Asher (thế kỷ thứ 10 SCN), người mà người Do Thái coi là nhà ngữ pháp Masoretic vĩ đại nhất. Là một cuốn sách có giá trị lớn, nó được lưu giữ tại Jerusalem trong suốt cuộc Thập tự chinh thứ nhất (1096-1099 SCN) trước khi bị quân Thập tự chinh chiếm giữ và đòi tiền chuộc. Cuối cùng được trả lại nguyên vẹn, cuốn sách được cất giữ ở Ai Cập trong 200 năm tiếp theo. Sau đó, nó dường như được đưa đến Aleppo, Syria, nơi nó được bảo vệ cẩn thận trong 600 năm tiếp theo. Ngay cả nhà phê bình văn bản vĩ đại Paul Kahle, cựu biên tập viên của ấn bản học thuật tiêu chuẩn, Biblia Hebraica, cũng bị từ chối tiếp cận cuốn sách này.

Sau khi Liên Hợp Quốc quyết định thành lập Nhà nước Israel hiện đại vào năm 1947, các cuộc bạo loạn chống người Do Thái đã nổ ra ở Syria, dẫn đến việc người dân Ả Rập ở Aleppo đốt cháy Đại giáo đường, nơi lưu giữ cuốn sách. Sau thời điểm này, câu chuyện trở nên mơ hồ. Điều chúng ta biết chắc chắn là cuốn sách đã hoàn chỉnh hoặc gần như hoàn chỉnh trước khi xảy ra bạo loạn, và ngày nay, 196 trong số 491 trang ban đầu đã bị mất. Một số người cho rằng hỏa hoạn đã phá hủy những trang này, nhưng những người đã kiểm tra kỹ lưỡng cuốn sách lại thấy rất ít bằng chứng về thiệt hại do hỏa hoạn. Những người khác cho rằng các trang đã bị xé ra khỏi cuốn sách một cách cố ý, có lẽ là để cứu vãn càng nhiều càng tốt trong tình huống nguy hiểm. 118 trong số 196 trang bị mất là từ Ngũ Kinh (phần cổ nhất và thiêng liêng nhất của Kinh Thánh đối với người Do Thái), và một vài tờ riêng lẻ đã xuất hiện qua nhiều thập kỷ. Bằng chứng này cho thấy những người Do Thái lo ngại thực sự đã xé các trang ra khỏi cuốn sách, có lẽ là để cứu vãn chúng.[3] Nhưng liệu những trang được cứu vãn này có bao giờ được tìm thấy hay không thì không thể nói chắc được.

Ý nghĩa của cuốn sách Aleppo nằm ở chỗ nó gần như hoàn chỉnh đối với nhiều sách trong Kinh Thánh. Có 295 trang còn tồn tại. Chỉ có 12 sách bị mất hoàn toàn (Sáng thế ký – Dân số ký, Truyền đạo, Ca thương, Ê-xơ-tê, Đa-ni-ên, E-xơ-ra, Nê-hê-mi, Áp-đia, Giô-na và A-ghê), mặc dù một số sách khác bị thiếu một phần (Phục truyền luật lệ ký, 2 Các Vua, Thi thiên, Nhã ca, Giê-rê-mi, A-mốt và Mi-chê). Tuy vậy, đây vẫn là bản thảo Masoretic tốt nhất hiện có.

Sách Leningrad (The Leningrad Codex)

Sách Leningrad đầu thế kỷ 11 hiện đang được lưu giữ tại St. Petersburg, Nga (“Leningrad” dưới thời Liên Xô cũ). Bản sao này, giống như bản thảo Aleppo, thuộc về nhóm các bản thảo tiếng Do Thái Masoretic của gia đình Ben Asher, và là cơ sở tiêu chuẩn cho sách Biblia Hebraica Stuttgartensia và gần đây hơn là sách Biblia Hebraica Quinta, những ấn bản học thuật tiêu chuẩn mà hầu hết các bản dịch Cựu Ước hiện đại đều dựa vào đó. Mặt khác, Dự án Kinh Thánh của Đại học Do Thái đã chọn sử dụng bản thảo Aleppo làm văn bản cơ sở chính. Mặc dù các học giả thường coi sách Aleppo đáng tin cậy hơn, nhưng hai cuốn sách này lại cực kỳ giống nhau. Cuốn Leningrad có vinh dự là cuốn Kinh Thánh tiếng Do Thái hoàn chỉnh lâu đời nhất được biết đến, mặc dù nó chưa đầy 1.000 năm tuổi.

Giấy Cói Nash

Giờ đây, chúng ta chuyển từ những bản sao Kinh Thánh tương đối hoàn chỉnh sang những mảnh giấy. Được mua lại năm 1902, Giấy cói Nash (được đặt tên theo Walter Llewellyn Nash, người đã mua nó) có niên đại vào cuối thế kỷ thứ 2 TCN, và là bản sao cổ nhất của bất kỳ phần nào trong văn bản Cựu Ước được biết đến trước khi phát hiện ra Cuộn Kinh Thánh Biển Chết. Mảnh giấy nhỏ, cao khoảng 14 cm và rộng hơn 5 cm một chút (xem Hình 1). Chỉ có 24 dòng là có thể đọc được, và những dòng này đại diện cho Mười Điều Răn và một phần của Shema’ (phát âm là sh-MAH) được trích từ Phục truyền 5 và 6. Một số người cho rằng văn bản này là một kinh cầu nguyện do kích thước của nó (xem Ma-thi-ơ 23:5).

Giấy cói Nash (cuối thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên) (Wikimedia commons, phạm vi công cộng)

Một điểm khác biệt thú vị giữa Giấy cói Nash và văn bản tiếng Do Thái được lưu truyền là việc giấy cói Nash thiếu cụm từ “nhà nô lệ” khi đề cập đến Ai Cập (Phục truyền luật lệ ký 5:6). Một số người cho rằng, vì giấy cói này có nguồn gốc từ Ai Cập, nên người sao chép không muốn xúc phạm quê hương mình bằng cách nhắc đến cụm từ đó, và vì vậy đã loại bỏ nó. Nếu Giấy cói Nash là một bản sao cá nhân dành cho mục đích sử dụng riêng, chúng ta có thể cho rằng các quy tắc nghiêm ngặt về tính thiêng liêng của từng lời trong Kinh Thánh không được áp dụng nghiêm ngặt như đối với một bản sao dành cho hội đường (xem Phục truyền luật lệ ký 8:3; Ma-thi-ơ 5:18). Tuy nhiên, cũng có thể (mặc dù ít khả năng hơn) là văn bản gốc (mà người Đức gọi là Vorlage) không chứa những từ này và người sao chép Giấy cói Nash đang sao chép những gì có sẵn trước mặt mình.

Những Cuộn Giấy Bạc Từ Ketef Hinnom

Năm 1979, hai cuộn giấy nhỏ bằng bạc chứa Lời chúc phúc của thầy tế lễ (Dân số 6:23-26) được tìm thấy trong một cuộc khai quật gần Jerusalem. Cuộn giấy lớn chỉ rộng khoảng 2,5 cm và dài dài khoảng 10 cm. Cuộn nhỏ hơn chiều ngang khoảng nữa cm và dài khoảng 3,8 cm. Mặc dù kích thước nhỏ bé, những văn bản này, có niên đại từ thế kỷ thứ 7 TCN, lại là những bản sao cổ nhất của bất kỳ phần nào trong Kinh Thánh mà chúng ta còn lưu giữ. Trớ trêu thay, chúng dường như được dùng làm bùa hộ mệnh để xua đuổi tà ma (xem thêm Ê-sai 3:20; Ê-xê-chi-ên 13:18,20).

Cuộn Kinh Thánh Biển Chết

Các bản thảo Kinh Thánh cổ nhất trong số các Cuộn Biển Chết có niên đại vào giữa thế kỷ thứ 3 TCN, và bản thảo muộn nhất có niên đại vào thế kỷ thứ 1 SCN. 4QExod–Lev f (4Q17) và 4QSam b (4Q52) là hai bản thảo cổ nhất được biết đến, và cả hai đều có niên đại vào giữa thế kỷ thứ 3 TCN. Bản thảo đầu tiên có lẽ từng chứa toàn bộ Ngũ Kinh, nhưng hiện chỉ còn lại năm mảnh vỡ với tổng cộng 259 từ. Bản thảo thứ hai chứa khoảng 23 mảnh vỡ và đại diện cho các phần khác nhau của 1 Sa-mu-ên 12-23. Cuộn Isaiah lớn (1QIsa a) là cuộn Kinh Thánh duy nhất trong số các Cuộn Biển Chết còn tồn tại nguyên vẹn. Do tính chất rời rạc của bằng chứng, việc biên soạn một Kinh Thánh tiếng Do Thái hoàn chỉnh từ các Cuộn Biển Chết là điều không thể.[4] Vì vậy, mặc dù có giá trị to lớn, khả năng áp dụng những gì chúng ta học được từ các Cuộn Biển Chết vẫn bị hạn chế.

Các mảnh vỡ còn tồn tại cung cấp một số biến thể khác nhau. Mặc dù không có biến thể nào làm thay đổi thần học của Cựu Ước, nhưng nhiều biến thể trong số đó đáng chú ý. Ví dụ, các bản dịch tiếng Anh truyền thống đặt chiều cao của Gô-li-át là sáu cubit và một gang tay, theo Văn bản tiếng Do Thái Masoretic (1 Sa-mu-ên 17:4). Nhưng bản sao tiếng Do Thái cổ nhất của câu chuyện về Gô-li-át trong sách Sa-mu-ên, 4QSam a, lại đồng ý với bản Septuagint rằng chiều cao của Gô-li-át là bốn cubit và một gang tay. 5 Điều này làm giảm chiều cao của Gô-li-át từ khoảng 2.8 m xuống còn khoảng 1.9 m! Biến thể cổ nhất có lẽ là biến thể gốc.

Một ví dụ khác có thể được đưa ra từ Cuộn Kinh Ê-sai vĩ đại. Trong Ê-sai 53:11, bản dịch 1QIsa a đồng ý với bản Septuagint, có nội dung: “Từ nỗi thống khổ trong tâm hồn, người ấy sẽ thấy ánh sáng và được thỏa mãn.” Bản tiếng Do Thái Masoretic, được thể hiện trong hầu hết các bản dịch tiếng Anh, không có từ “ánh sáng”. Không chắc chắn liệu từ “ánh sáng” đã được thêm vào Cuộn Kinh Ê-sai hay bị loại bỏ khỏi bản tiếng Do Thái Masoretic. Vì vậy, trong trường hợp này, chúng ta không thể chắc chắn bản gốc là gì.

Có một vài trường hợp chúng ta biết rằng văn bản tiếng Do Thái Masoretic bị thiếu. Ví dụ, Thi Thiên 145 là một Thi Thiên theo thể thơ chữ đầu (acrostic), trong đó mỗi dòng bắt đầu bằng chữ cái kế tiếp của bảng chữ cái tiếng Do Thái (ד, ג, ב, א, v.v.). Vấn đề là dòng bắt đầu bằng chữ nun (נ) bị thiếu. Bản thảo 11QPs a, bản thảo Thi Thiên duy nhất trong Cuộn Biển Chết bao gồm Thi Thiên 145, có câu thơ bắt đầu bằng chữ nun: “Đức Chúa Trời trung tín trong lời Ngài và nhân từ trong mọi việc làm của Ngài”. Điều trùng hợp là câu thơ bị thiếu lại trùng khớp với những gì đã được bảo tồn trong bản Septuagint từ lâu. Không còn nghi ngờ gì nữa, bản Septuagint và Cuộn Biển Chết bảo tồn bản đọc gốc.

Tôi không muốn tạo ấn tượng rằng các cuộn kinh Biển Chết luôn luôn trùng khớp với bản Septuagint. Trên thực tế, Emanuel Tov khẳng định rằng không một bản thảo Qumran nào có thể được coi là văn bản gốc của bất kỳ cuốn sách nào được dịch sang dạng tiếng Hy Lạp Septuagint. Thay vào đó, Tov đưa ra các số liệu thống kê sau: trong Ngũ Kinh, chỉ có 46 bản thảo cung cấp cơ sở đủ để phân tích. Trong số các bản thảo này, 27 bản (gần 60%) rõ ràng dự đoán Văn bản Masoretic sau này, trong khi chỉ có một bản nhìn chung phù hợp với bản Septuagint. 18 bản còn lại không thể được đối chiếu với bất kỳ truyền thống văn bản nào đã biết (39%). Trong số các sách còn lại của Kinh Thánh, 75 bản thảo đủ để phân tích. Trong số này, 33 bản dự đoán Văn bản Masoretic (44%) trong khi chỉ có năm bản phản ánh văn bản được thể hiện bởi bản Septuagint. Trong số các bản thảo này, Tov coi 37 bản là không phù hợp (49%).[5] Nói cách khác, các bản thảo phù hợp với văn bản Masoretic sau này chiếm ưu thế.

Tất nhiên, các truyền thống văn bản khác nhau không khác biệt nhiều như người ta có thể tin tưởng dựa trên những số liệu thống kê này. Phê bình văn bản quan tâm đến những chi tiết nhỏ như sự hiện diện hoặc vắng mặt của các chữ cái hoặc sự phân chia từ. Ví dụ, “thung lũng bóng tối của sự chết” (Thi thiên 23:4) giả định là từ tiếng Do Thái צל מות, nhưng văn bản tiếng Do Thái thực sự có צלמות, có nghĩa là “bóng tối chết chóc”. Sự khác biệt về định nghĩa nằm ở một khoảng trắng trong một từ, chứ không phải ở một văn bản khác! Một ví dụ khác là cách viết Môi-se là משה hoặc מושה, hoặc Đa-vít là דוד hoặc דויד. Những khác biệt về chính tả này được coi là các biến thể, nhưng không làm thay đổi ý nghĩa. Cũng cần nhấn mạnh rằng các phân tích thống kê, như đã trích dẫn ở trên, có xu hướng rất chủ quan, và nhiều người khác chắc chắn sẽ không đồng ý. Những khám phá tiếp theo có thể thay đổi đáng kể những gì chúng ta nghĩ rằng chúng ta hiện biết. Sự khiêm tốn luôn luôn cần thiết trong lĩnh vực phê bình văn bản. Tuy nhiên, sự đa dạng của các văn bản Cựu Ước khác nhau tại Qumran dường như tương đồng với sự đa dạng của các trích dẫn Cựu Ước trong Tân Ước. Vào thời Chúa Giê-su, không có “phiên bản được ủy quyền” nào của Kinh Thánh.

Tính đa dạng về văn bản và các trích dẫn trong Tân Ước

Cho đến nay, chúng ta đã cố gắng chứng minh rằng Kinh Thánh Hebrew không tồn tại ở dạng nguyên bản duy nhất vào thời điểm viết Tân Ước. Liệu các tác giả Tân Ước có nhận thức được tình trạng này không? Nếu có, họ đã xử lý sự đa dạng về văn bản như thế nào? Có vẻ như các tác giả Tân Ước vừa tôn trọng vừa sử dụng sự đa dạng về văn bản hiện có. Các trích dẫn trong Tân Ước đôi khi trùng khớp chính xác với bản tiếng Hebrew Masoretic (ví dụ: Mác 15:28 ~ Ê-sai 53:12), đôi khi trùng khớp chính xác với bản Septuagint (ví dụ: Mác 7:6–7 ~ Ê-sai 29:13), đôi khi phù hợp hơn với các cuộn sách Biển Chết (ví dụ: Rô-ma 15:10 ~ Phục truyền luật lệ ký 32:43 [= 4QDeut q ]), và đôi khi không trùng khớp với bất kỳ bản nào khác đã biết (tức là chúng “không được sắp xếp thẳng hàng” theo thuật ngữ học thuật; ví dụ: Rô-ma 1:17; Ga-la-ti 3:11 ~ Ha-ba-cúc 2:4).

Có những lúc bản dịch tiếng Hy Lạp phản ánh ý định thiêng liêng rõ ràng hơn cả bản gốc tiếng Do Thái. Ví dụ, để bác bỏ lời của những người Sa-đốc, Chúa Giê-su trích dẫn bản dịch Septuagint của Xuất Ê-díp-tô Ký 3:6: “‘Ta là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, và Đức Chúa Trời của Gia-cốp.’ Đức Chúa Trời không phải là Đức Chúa Trời của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống” (Ma-thi-ơ 22:32). Tiếng Do Thái không có động từ ở thì hiện tại, do đó động từ “Ta là” bị thiếu trong văn bản tiếng Do Thái của Xuất Ê-díp-tô Ký 3:6 (lưu ý rằng bản NKJV in nghiêng từ “là” trong Xuất Ê-díp-tô Ký 3:6, cho thấy sự vắng mặt của nó trong văn bản tiếng Do Thái). Để không còn nghi ngờ gì về ý nghĩa, Chúa Giê-su trích dẫn bản tiếng Hy Lạp của câu đó (trong đó chỉ rõ thì hiện tại).

Có những trường hợp khác mà các tác giả Tân Ước có thể khái quát hóa một câu bằng cách sửa đổi nó một chút. Việc Phao-lô trích dẫn Ha-ba-cúc 2:4 có thể thuộc vào trường hợp này. Bản tiếng Do Thái Masoretic viết là, “Người công chính sẽ sống bởi đức tin của mình,” có thể được hiểu là sự trung tín của người công chính hoặc sự trung tín của Đức Chúa Trời. Bản Septuagint làm rõ hơn, “Người công chính sẽ sống bởi đức tin của ta,” rõ ràng là ám chỉ Đức Chúa Trời. Sự khác biệt giữa các đại từ sở hữu “của mình” và “của ta” chỉ là một nét của một chữ cái trong tiếng Do Thái (“của mình” = ו và “của ta” = י). Những chữ cái này thường bị nhầm lẫn trong các bản thảo tiếng Do Thái (điều này khiến nhiều sinh viên học tiếng Do Thái cơ bản cảm thấy đồng cảm!), và dường như ở đây Phao-lô muốn vừa loại bỏ sự nhầm lẫn về văn bản vừa khái quát hóa chân lý của câu với ý nghĩa trừu tượng hơn, “Người công chính sẽ sống bởi đức tin” (Rô-ma 1:17; Ga-la-ti 3:11).

Cách các tác giả Tân Ước sử dụng các phiên bản khác nhau của Kinh Thánh không khác mấy so với cách nhiều nhà thuyết giáo sử dụng các bản dịch tiếng Anh. Tôi đã nghe bài giảng của một số người thích bản King James nhưng lại chuyển sang bản American Standard Version khi giảng về Thi thiên 119:160a. Bản trước dịch là, “Lời Chúa là chân thật từ ban đầu,” trong khi bản sau dịch là, “Toàn bộ lời Chúa là chân lý.” Vì tiếng Do Thái không rõ ràng (nghĩa đen là, “đầu lời Chúa là chân thật [hoặc sự thật]”), nên cả hai bản dịch đều có thể được coi là khả thi. Nhưng hầu hết sẽ chọn đoạn văn “giảng dạy” hay hơn hoặc làm rõ ý hơn. Trong trường hợp không chắc chắn, có lẽ không phải là dại dột khi làm theo cách đó, ngay cả khi các dịch giả (và nhà thuyết giáo!) hiện đại không có được sự soi sáng. Tóm lại là: bất chấp những khác biệt nhỏ giữa các bản thảo, Cựu Ước được bảo tồn và truyền lại một cách đáng kinh ngạc—có thể nói là nhờ sự quan phòng của Chúa.

KẾT LUẬN

Văn bản Cựu Ước vừa được xác nhận vừa trở nên phức tạp hơn nhờ việc phát hiện ra Cuộn Kinh Thánh Biển Chết. Bản Septuagint cũng ủng hộ nội dung cơ bản của tiếng Do Thái truyền thống, nhưng cũng chứa một số khác biệt không nên bỏ qua. Các bản dịch hiện đại của Cựu Ước thường xem xét tất cả các bằng chứng, vận dụng phán đoán tốt nhất của mình khi dường như có sai sót trong việc truyền tải tiếng Do Thái Masoretic. Ví dụ, Sáng Thế Ký 47:21 trong văn bản Masoretic dường như đã nhầm lẫn chữ daleth (ד) với resh (ר), một sai lầm dễ hiểu, vì hai chữ cái này rất giống nhau về hình thức. Bản RSV và ESV đã chọn theo các phiên bản cổ (Ngũ Kinh Samaria, Septuagint và Vulgate Latinh) trong khi KJV và ASV chọn dịch tiếng Do Thái Masoretic, bất chấp sai sót rõ ràng của nó. Một lần nữa, trong 1 Sa-mu-ên 1:24, hầu hết các phiên bản hiện đại đều dịch là “con bò đực ba tuổi” trái ngược với KJV và NKJV dịch là “ba con bò đực”. Truyền thống Kinh Thánh King James (KJV) tuân theo bản tiếng Do Thái Masoretic (mặc dù khó có thể tưởng tượng An-ne kéo ba con bò đực đến Si-lô!), trong khi các phiên bản hiện đại tuân theo 4QSam a , bản Septuagint và truyền thống Syriac. Trong trường hợp này, văn bản cổ nhất có ý nghĩa hơn.

Bằng chứng cho thấy chúng ta nên thận trọng khi đọc Cựu Ước, giống như các tác giả Tân Ước dường như đã làm. Chỉ trong một số ít trường hợp mới có sự khác biệt đáng chú ý giữa các truyền thống văn bản, và ngay cả khi đó, sự khác biệt chỉ liên quan đến những chi tiết nhỏ nhặt, tuy quan trọng đối với các nhà phê bình văn bản, nhưng không làm thay đổi bất kỳ giáo lý chính nào của Cựu Ước . Điều đó cho thấy rằng Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta một bản văn Cựu Ước về cơ bản là chính xác trong tất cả những gì chúng ta cần biết về bản chất và ý muốn của Ngài.

Những nhà phê bình cho rằng chúng ta không thể hiểu được văn bản Kinh Thánh chắc hẳn đang cố gắng thổi phồng vấn đề lên. Hãy để họ đưa ra một biến thể nào đó từ Cựu Ước làm thay đổi đáng kể một điểm thần học được Chúa Giê-su hoặc các sứ đồ khẳng định. Sự khác biệt cơ bản trong các truyền thống văn bản của Cựu Ước có thể được so sánh với sự khác biệt trong các bản dịch tiếng Anh. Mặc dù Kinh Thánh của một người có thể có một vài từ hoặc cụm từ khác nhau, nhưng thông điệp cốt lõi của Lời Chúa vẫn không thay đổi. https://apologeticspress.org/the-integrity-of-the-biblical-text-part-3-text-of-the-old-testament/


[1] Chỉ để nêu một vài ví dụ, sách Dân số k‎ý đề cập đến “Sách Chiến tranh của Chúa” (Dân số 21:14). Sách Giô-suê đề cập đến “Sách Gia-sa” (Giô-suê 10:13), và riêng sách 2 Sử ký 9:29 đã đề cập đến ba tác phẩm khác nhau: “Lời của Tiên tri Na-than”, “Lời tiên tri của A-hi-gia người Si-lô”, và “Khải tượng của Y-đô, người nhìn thấy khải tượng”.

[2]  Xem Emanuel Tov (2001), Phê bình văn bản Kinh thánh Do Thái (Minneapolis, MN: Fortress Press), ấn bản sửa đổi lần thứ hai, trang 2. 108.

[3] Để có một bài viết hấp dẫn về lịch sử của Bản thảo Aleppo, hãy xem Hayim Tawil và Bernard Schneider (2010), Vương miện của Aleppo: Bí ẩn về Bản thảo Kinh thánh tiếng Do Thái cổ nhất (Philadelphia, PA: JPS), và phổ biến hơn, Matti Friedman (2013), Bản thảo Aleppo: Theo đuổi một trong những cuốn sách được thèm muốn, thiêng liêng và bí ẩn nhất thế giới (New York: Algonquin Books).

[4] Để có bản dịch thuận tiện của các Cuộn Kinh thánh, hãy xem Martin G. Abegg, Jr. và Peter Flint (2002), Kinh thánh Cuộn Biển Chết: Kinh thánh cổ nhất được biết đến được dịch lần đầu tiên sang tiếng Anh (San Francisco, CA: Harper).

[5] 4QSama là một bản thảo kỳ lạ, chứa 81 biến thể không trùng khớp với bất kỳ văn bản Samuel nào khác đã biết (xem Donald W. Parry (2002), “Các bản đọc độc đáo trong 4QSama,” trong Kinh Thánh như một cuốn sách: Kinh Thánh Hebrew và những khám phá ở sa mạc Judaean, do Edward D. Herbert và Emanuel Tov biên tập [London: Thư viện Anh], trang 209-217).

 

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Lên đầu trang